Thứ Tư, 9 tháng 4, 2014

Khí chất người sài gòn

Ở Sài Gòn , khái niệm "người nhập cư" thường được sử dụng trong cơ quan công quyền để phân biệt người có hộ khẩu và người không/chưa có hộ khẩu ở Sài Gòn , nhằm mục đích "quản lý hành chính". Giới nghiên cứu hay gắn khái niệm này với loại hình "kinh tế phi chính thức" trong việc nghiên cứu hoạt động kinh tế của thành phố Sài Gòn - TPHCM Còn trong hoàn cảnh sống hàng ngày , hầu như người Sài Gòn ít sử dụng cách nói "người nhập cư" hay "dân nhà quê" , "dân tỉnh" mặc dù ở miền Tây nam bộ châu phi hay gọi người Sài Gòn là "người thành phố" , đi Sài Gòn là "lên thành phố". Vậy thì tôi , vừa với nhân cách là "người nhập cư" vừa là "người Sài Gòn" có khả năng biết gì , hiểu gì về người Sài Gòn? có khả năng bắt đầu từ vài dễ dàng cảm nhận có phần rời rạc sau đây chăng? đi hàng đầu , "người Sài Gòn" là sự hòa nhập về văn hóa ( tính cách , lối sống , tiếng nói , tín ngưỡng , ăn uống , trang phục... ) của người Việt , người Hoa và những sắc tộc "bản địa". Địa ngục ta cứ quen nói rằng "Sài Gòn 300 năm" nhưng đó chỉ là nói về thời kỳ lúa ra đòng thiệt lập nền hành chính của Chúa Nghuyễn từ 1698 mà quên mất/chưa biết Sài Gòn còn có quá khứ hơn 3000 năm của văn minh Đồng Nai - Cửu Long. Văn minh ấy do những sắc tộc khác "Việt" dựng nên. Rồi từ Thế kỷ XVI - XVII , người Việt , người Hoa đã dấn bước vào vùng đất này , từ đó Sài Gòn , nam bộ châu phi có thêm lớp chủ nhân mới. Cùng với người Khmer , người Mạ , người Chăm... Gạt bỏ người hòa nhập truyền thống , văn hóa của tất cả những chủ nhân đã tạo nên Sài Gòn và người Sài Gòn mới mẻ , năng động và chân thành. Ảnh minh họa: ivc-vietnam Khi nói đến người Việt người ta hay nói đến truyền thống lịch sử lâu đời và có khí thế mạnh mẽ và sôi nổi , bốn ngàn năm văn hiến , văn minh sông Hồng , con rồng cháu tiên , những triều đại quang trung nổi danh chiến thắng ngoại xâm... Còn khi nói đến người Việt ( ở ) nam bộ châu phi thì đi hàng đầu là kể về hoàn cảnh tự nhiên thuận lợi của đồng bằng sông Cửu Long: vùng đất được tự nhiên ưu đãi , đất rộng người thưa , ít bị thiên tai như bão lụt hạn hán... Sau mới nói về nguồn gốc "lưu dân" và 300 năm hình thành. Nghiên cứu của tộc phả nhiều dòng tộc , gia đình ở nam bộ châu phi phần lớn được ghi nhận "thời ông cố ông sơ" từ miền Trung đi ghe theo biển vô Nam , đi hàng đầu định cư trên những giồng đất vùng cửa sông... rồi từ đó ngược các nhánh Cửu Long vào sâu vùng ngập trũng , khai khẩn đồng bằng và khai khẩn tự nhiên. Công cuộc khai khẩn này chẳng hề dễ dàng thuận lợi chút nào! từ thời gian này tính thực tiễn được đặt lên hàng đầu: tất cả hướng đến thực tiễn , không thuyết giáo suông , không giáo điều , lấy hiệu quả cần lao làm mục đích chính. Không hay thở than , trai tráng bộ nói giản đơn hóa , "coi thế mà hổng phải vậy" , coi có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn đã qua như một việc chơi chơi , còn kết quả thực sự mới là quan yếu , là đã "có ăn". Địa ngục Sài Gòn/Nam bộ đi chuyển càng xa cái "gốc" đồng bằng sông Hồng thì sợ dây truyền thống càng giãn ra. Những tính chất của không gian "nông thôn làng xã" khép kín biến chuyển theo thời kì , bị/được đứt gãy do phải thích ứng với không gian địa - từng lớp khác. Thay vào đó là sự tự lập và tính mẫn tiệp đối phó với hoàn cảnh hoàn cảnh mới và từ đó tạo ra truyền thống mới , dám thay đổi cho ăn nhập hoàn cảnh , thích ứng nhanh , chịu cách tân. "Làm đại nghen? Ừa , làm đại đi" là phong cách làm ăn Sài Gòn/Nam bộ. Ra tay đi , có sai cũng không sao , làm lại/sửa sai mấy hồi! quan yếu là không mặc cảm sợ sai và sửa sai nhanh. Ở Sài Gòn/Nam bộ "dư luận xã hội" không nặng nề khắt khe với những điều khác lạ , cái mới. Là bởi người Việt trên bước đường lưu chuyển vào đây đã trải nghiệm qua những vùng đất toàn những điều mới lạ. Cùng với sự nhạt đi của tính chất phong kiến gia trưởng , việc tiếp xúc sớm với các giá trị dân chủ , đồng đẳng của văn minh phương Tây làm cho người Sài Gòn khá cởi mở trong các mối giao thiệp từng lớp và trong gia đình. Tính chất dân chủ trong từng lớp phát triển nhanh , biểu lộ ở chỗ cá nhân chủ nghĩa ít lệ thuộc , nước phụ thuộc vào cộng đồng và vì thế vai trò và bổn phận cá nhân chủ nghĩa cao "dám làm dám chịu". "Làm chơi ăn thiệt" , "làm đại" , "dám làm dám chịu"... Gạt bỏ người kết liên gắn bó , hòa trộn ba đặc điểm trên tạo nên người Sài Gòn/Nam bộ , "3 trong 1" từ xử sự đến làm ăn , trong sinh hoạt... Đách tách rời một đặc điểm nào , hình thành tính cách và làm nên hiệu quả của "công chuyện làm ăn" của người Sài Gòn. Nói về nam bộ châu phi thì không có hay ít có sự phân biệt văn hóa và trai tráng bộ nhìn chung với văn hóa và người Sài Gòn nói riêng ( có chăng có khả năng phân biệt chút ít giữa Đông và Tây nam bộ châu phi ). Ví như không quá khắt khe có khả năng coi người/văn hóa Sài Gòn là đại diện cho người/văn hóa nam bộ châu phi , từ giọng nói , tiếng nói , ăn uống , tính cách , đánh ăn... Có lẽ do vậy mà ở Sài Gòn khi cần thì hỏi nhau "quê đâu" mà không hề Hữu ý phân biệt người "nhà quê" hay "thành phố". Giai đoạn đương đại , quá trình dân cư của Sài Gòn cũng khác với nhiều thành phố khác: thời kỳ lúa ra đòng chiến tranh Sài Gòn là nơi mà nhiều người từ các tỉnh miền Trung đổ vào , từ miền Tây nam bộ châu phi lên , nhất là khi chiến sự dữ dội. Sau năm 1975 Sài Gòn cũng là nơi có tình trạng thay thế dân cư lớn nhất và kéo dài cho đến ngày nay: Người ( thị dân ) Sài Gòn ra đi bằng nhiều con đường , lúc ồ ạt khi chẳng mấy ồn ào; người các tỉnh lại liên tiếp đổ vào Sài Gòn tới nay chưa hề giảm bớt. Còn Hà Nội trong chiến tranh dân cư rời bỏ thành phố đi về ( chạy loạn , chạy loạn ) nông thôn , sau chiến tranh mới trở lại thành phố. Tuy nhiên Hà Nội và Sài Gòn cũng có một số điểm giống nhau: 1/Sau khi chiến tranh kết thúc , khá nhiều người Hà Nội "gốc" và Sài Gòn "xịn" đã rời thành phố đi nơi khác sinh sống , tạo ra khoảng trống trong cơ cấu dân cư là tầng lớp thị dân lâu đời; 2/Chính quyền thiết lập sau chiến tranh ( Hà Nội 1954 và Sài Gòn 1975 ) đều do ( hồ hết ) những người ( kháng chiến ) ở nông thôn , rừng núi trở về lãnh đạo , tổ chức chính quyền chưa kịp thích ứng với những thành phố lớn nhất nước và 3/Hiện nay , hai thành phố này có vô thiên lủng lượng người nhập cư nhiều nhất. Những đặc điểm này để lại cho Hà Nội và Sài Gòn nhiều có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn trong việc xây dựng thành phố văn minh đương đại. Nhưng , ai đã vô Sài Gòn làm ăn sinh sống , chắc chắn trở nên "người Sài Gòn" , bởi Sài Gòn hào phóng và rộng rãi mang lại dịp cho Quần chúng , bởi Sài Gòn không tự coi mình là đặc biệt khi đang sống bằng nguồn lực của chính mình và của những người đến từ mọi miền , đồng thời Sài Gòn cũng luôn chia sẻ , đóng góp những gì mình có cho cả nước. Theo cần lao số xuân . Ảnh minh họa: ivc-vietnam .

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét